Trong quá trình học và nghiên cứu tiếng Trung, ngữ pháp là một vấn đề luôn được xem trọng. Trong đó các thành phần câu luôn được người học quan tâm. Hôm nay Hoa Văn SaigonHSK sẽ giới thiệu cho các bạn về một thành phần câu không kém phần quan trọng – Bổ ngữ.
1. Bổ ngữ là gì?
Bổ ngữ là thành phần đứng sau động từ và tính từ nhằm bổ sung, nói rõ về kết quả, mức độ, xu hướng, khả năng, trạng thái, số lượng của động tác hoặc tính chất.
2. Các loại bổ ngữ trong tiếng Trung:
Trong tiếng Trung hiện đại tổng cộng gồm 7 loại bổ ngữ như sau:
2.1. Bổ ngữ kết quả:
Bổ ngữ kết quả dùng để bổ sung, nói rõ kết quả của động tác, thường do tính từ hoặc một số ít động từ đơn âm tiết đảm nhiệm. Giữa bổ ngữ kết quả và động từ không cần thêm “得” (de).
Vd: 写错 /xiě cuò/ Viết sai
听懂 /tīng dǒng/ Nghe hiểu
做完 /zuò wán/ Làm xong
关上 /guān shàng/ Tắt đi

Khi động từ mang theo tân ngữ thì tân ngữ phải được đặt phía sau bổ ngữ kết quả:
Vd: 写错字 /xiě cuò zì/
听懂老师的话 /tīng dǒng lǎoshī de huà/
做完作业 /zuò wán zuòyè/
关上电视 /guān shàng diànshì/

Bổ ngữ kết quả cũng có thể mang theo trợ từ động thái “了” biểu thị động tác đã hoàn thành.
Vd: 写错了字 /xiě cuò le zì/
听懂了老师的话 /tīng dǒng le lǎoshī de huà/
做完了作业 /zuò wán le zuòyè/
关上了电视 /guān shàng le diànshì/

2.2. Bổ ngữ trạng thái:
Bổ ngữ trạng thái hay còn gọi là bổ ngữ tình thái, được đặt sau động từ nhằm nói rõ về trạng thái của động tác, thường do cụm tính từ đảm nhiệm. Giữa động từ và bổ ngữ trạng thái bắt buộc phải có “得” (de).
Vd: 写得很快 /xiě de hěn kuài/ Viết rất nhanh
说得非常流利 /shuō de fēicháng liúlì/ Nói rất lưu loát
游得慢极了 /yóu de màn jíle/ Bơi cực kỳ chậm

Khi động từ mang theo tân ngữ và bổ ngữ kết quả, lúc này ta bắt buộc phải điệp lại động từ rồi mới thêm tân ngữ.
Vd: 写汉字写得很快 /xiě hànzì xiě de hěn kuài/ Viết chữ hán rất nhanh
说汉语说得非常流利 /shuō Hànyǔ shuō de fēicháng liúlì/ Nói tiếng Trung rất lưu loát
游泳游得慢极了 /yóuyǒng yóu de màn jíle/ Bơi lội cực kỳ chậm

Ngoài ra, nếu không điệp lại động từ ta có thể đặt tân ngữ ra phía trước động từ rồi sau đó thêm bổ ngữ trạng thái
Vd: 汉字写得很快 /Hànzì xiě de hěn kuài/ Viết chữ hán rất nhanh
汉语说得非常流利 /Hànyǔ shuō de fēicháng liúlì/ Nói tiếng Trung rất lưu loát
泳游得慢极了 /yǒng yóu de màn jíle/ Bơi lội cực kỳ chậm

2.3. Bổ ngữ thời lượng:
Thời là thời gian, lượng là số lượng. Bổ ngữ thời lượng dùng để nói rõ về khoảng thời gian mà động tác nào đó diễn ra hay nói cách khác có nghĩa là động tác đó xảy ra trong bao lâu “多长时间” (duō cháng shíjiān). Giữa bổ ngữ thời lượng và động từ thường có trợ từ động thái “了” (le).
Vd: 学习了一个小时 /xuéxí le yí gè xiǎoshí/ Học 1 tiếng đồng hồ rồi
写了五分钟 /xiě le wǔ fēnzhōng/ Viết 5 phút rồi
等了半个小时 /děng le bàn gè xiǎoshí/ Đợi nửa tiếng đồng hồ rồi

Khi động từ có mang theo tân ngữ, ta phải điệp lại động từ rồi mới thêm tân ngữ.
Vd: 学习汉语学习了一个小时 /xuéxí Hànyǔ xuéxí le yí gè xiǎoshí/ Học tiếng Trung 1 tiếng đồng hồ rồi
写汉字写了五分钟 /xiě hànzì xiě le wǔ fēnzhōng/ Viết chữ hán 5 phút rồi
等车等了半个小时 /děng chē děng le bàn gè xiǎoshí/ Chờ xe nửa tiếng đồng hồ rồi

Ngoài ra, ta cũng có thể đặt tân ngữ ra phía sau bổ ngữ thời lượng để câu trở nên ngắn gọn hơn.
Vd: 学习了一个小时汉语 /xuéxíle yīgè xiǎoshí Hànyǔ/ Học tiếng Trung 1 tiếng đồng hồ rồi
写了五分钟汉字 /xiěle wǔ fēnzhōng hànzì/ Viết chữ hán 5 phút rồi
等了半个小时车 /děngle bàn gè xiǎoshí chē/ Chờ xe nửa tiếng đồng hồ rồi

Nếu tân ngữ trong câu là danh từ chỉ người, ta cần đặt tân ngữ chỉ người ra trước bổ ngữ thời lượng.
Vd: 等了大卫三个小时 /děngle dà wèi sān gè xiǎoshí/  Đợi David 3 tiếng đồng hồ rồi
教了他三个月 /jiàole tā sān gè yuè/ Dạy anh ấy 3 tháng rồi

Nếu động từ trong câu là động từ chỉ xảy ra một lần, chẳng hạn như các động từ “来” (lái), “去” (qù), “毕业” (bìyè), “结婚” (jiéhūn), “离婚” (líhūn)v.v. Trong trường hợp này, khoảng thời gian trong bổ ngữ thời lượng được tính từ lúc động tác xảy ra cho đến thời điểm hiện tại.
Vd: 我来中国两个月了。/wǒ lái zhōngguó liǎng gè yuèle./ Tôi đến Trung Quốc 2 tháng rồi.
我弟弟毕业五年了。 /Wǒ dìdì bìyè wǔ niánle./ Em trai tôi tốt nghiệp 5 năm rồi.

Cùng học các bổ ngữ còn lại vào bài viết sau nhé!

Thêm bình luận